09 January, 2017

Thế Nào Là Xe SUV, Sedan, Hatchback,….

Sự phát triển của công nghệ và thiết kế xe dẫn đến việc có nhiều dòng xe mới được tạo ra. Dưới đây là định nghĩa về một vài dòng phổ biến tại Việt Nam hiện nay.

svot-3

Sedan, SUV, Hatchback, Coupe, Pick-up,…, những người yêu xe chắc chắn từng nghe đến những khái niệm này, tuy nhiên thực chất chúng là gì thì không phải ai cũng biết.
Lịch sử hàng trăm năm của xe hơi đã kéo theo rất nhiều loại xe được tạo ra, phục vụ cho những mục đích cũng như sở thích riêng của người dùng.
Người ta có thể phân biệt các loại xe dựa trên thương hiệu, kích cỡ xe lớn/nhỏ, phục vụ gia đình/vận tải/thể thao,… Tuy nhiên, cách phân chia phổ biến nhất vẫn là dựa trên kiểu dáng xe. Đó là lý do chúng ta có những khái niệm về các dòng xe như kể trên.

Sedan

svot-4

Sedan được hiểu là loại xe 4 cửa, có 4 hoặc 5 chỗ ngồi, với trần xe kéo dài từ trước ra sau, ca-pô và khoang hành lý thấp hơn khoang chính, cùng với cách mở cốp hắt lên.
Ở Việt Nam những dòng sedan phổ biến có thể kể đến như như Toyota Altis, Camry, Kia K3, Honda Civic,…

SUV và CUV (Sport/Crossover Utility Vehicle)

svot-5

SUV và CUV (hay gọi là Crossover) là hai khái niệm thường sử dụng pha trộn, đôi khi được chấp nhận dùng chung.
Bản chất SUV là xe thể thao đa dụng, với đặc trưng gầm cao, hệ dẫn động 4 bánh toàn thời gian hoặc bán thời gian. Kích thước dòng xe này thường từ cỡ trung đến lớn, với trang bị thiên về khả năng chạy đường dài, off-road nhiều hơn là di chuyển phố.
Crossover là khái niệm kết hợp một chiếc SUV và xe đô thị. Dòng xe này có gầm cao để vượt địa hình nhưng khả năng vận hành trên đường trường tương đối giống xe gầm thấp (Ví dụ: Hyundai Santa Fe, Chevrolet Captiva,…). CUV thường được thiết kế dựa trên một nguyên mẫu Sedan nào đó của hãng.

svot-6

Chẳng hạn với Lexus, LX570 là SUV, nhưng RX350 lại là CUV.

Hatchback

svot-7

Hatchback là dòng xe khá phổ biến tại Việt Nam, với những đại diện như Hyundai Grand i10, Ford Fiesta, Toyota Yaris,…
Đặc trưng của dòng xe này khá dễ nhận biết, đó là phần đuôi xe không kéo dài thành cốp như Sedan mà cắt thẳng ở hàng ghế sau, tạo thành một cửa mới. Bên cạnh kiểu thiết kế này, hàng ghế phía sau của xe cũng có khả năng gập xuống tạo không gian lớn xếp đồ.

Pick-up (Xe bán tải)

svot-8

Pick-up là loại xe thường có 2 hoặc 4 cửa, cách cấu tạo tương tự SUV nhưng có thùng phía sau chở hàng, ngăn cách riêng với khoang hành khách. Dòng xe này thường sử dụng nhiều cho những người có nhu cầu di chuyển kết hợp vận tải hàng hóa.
Ở Việt Nam, phân khúc xe bán tải ngày càng thịnh hành nhờ ưu điểm như một chiếc sedan lại chở được nhiều đồ cùng mức thuế phí rẻ hơn. Những mẫu xe nổi bật như Ford Ranger, Mazda BT-50, Mitsubishi Triton,…

Minivan

svot-9

Toyota Innova là đại diện dễ thấy nhất của xe Minivan. Đây là loại xe 6 đến 8 chỗ, có ca-bin kéo dài, cửa mở kiểu bản lề hoặc rãnh trượt – không nắp ca-pô trước, không có cốp sau
Minivan hay MPV (Multi-Purpse Vehicle – Xe đa dụng) thường sử dụng cho gia đình, có khả năng linh động chuyển đổi giữa chở người và chở hàng hóa. MPV thường có gầm cao hơn Sedan nhưng thấp hơn Crossover hay SUV.

Coupe

svot-10

Trong khi các dòng xe trên khá phổ biến ngoài thực tế thì Coupe mới là dòng xe khiến nhiều người yêu xe mê mẩn.
Coupe chính là các mẫu xe 2 cửa, 2 chỗ ngồi với động cơ vận hành hiệu suất cao. Nó gắn liền với các mẫu xe thể thao.
Mới đây, nhiều biến thể của Coupe xuất hiện với việc có tới 4 chỗ ngồi, 4 cửa. Tuy vậy, người ta vẫn quen gọi chúng là Sedan chứ không phải Coupe (chẳng hạn như Porsche Panamera, Audi A5 Sportback, A7 Sportback,…) 

Convertible

svot-11

Là xe có mui xếp hoặc mui trần (roadster): Xe mui xếp là xe có mui trên có thể xếp gọn xuống thành xe mui trần. Phần lớn các xe Convertibles là xe thể thao, nghĩa là chỉ có 2 chỗ ngồi, có động cơ hiệu năng cao, khả năng lái rất tốt. Các hãng GM, Ford, Mitsubishi, và Chrysler gần đây đưa ra các mẫu xe mui xếp mới, 4 chỗ, đó là các model Chevrolet Cavalier, Chrysler Conquest và Mitsubishi Eclipse Spyder.

Van

svot-12

Đây là loại xe chở người số lượng lớn, có từ 7-15 chỗ ngồi, thường dùng cho gia đình lớn, xe du lịch hoặc được độ lại làm “nhà di động”, chẳng hạn như Ford Transit, Mercedes Sprinter,...
Tổng hợp

11 Điều Mà Người Tính Tình Nóng Nảy, Ăn Nói Bộp Chộp Cần Phải Biết

Mọi người chúng ta ai cũng đều tức giận, chỉ khác nhau ở mức độ nóng tính và phản ứng ra sao với cùng một sự việc. Có khi nào bạn tử hỏi tại sao những người kia được mọi người quý mến và dễ gần gũi còn bạn thì không?

svot-1

1. Việc gấp, nói từ tốn

Gặp phải trường hợp khẩn cấp, nếu có thể dằn lòng một phút để suy nghĩ, sau đó nói chậm rãi, không vội vàng hấp tấp thì người nghe cũng sẽ thấy ổn định mà không cuống cuồng, “tá hỏa” theo. Bình thản ngay trong lúc khẩn cấp sẽ giúp bạn chiếm được niềm tin của người khác, cho thấy bạn là người có năng lực thực sự, khó “xung động” và là chỗ dựa của mọi người xung quanh.
svot-2

2. Điều không chắc, nên nói thật thận trọng

Đối với những điều không nắm bắt rõ, nếu bạn không lên tiếng, đôi khi người ta nghĩ bạn đạo đức giả hoặc thiếu hiểu biết, không có chính kiến. Chi bằng diễn đạt một cách cẩn thận, mọi người sẽ cảm thấy rằng bạn là một người đáng tin cậy.

3. Chuyện vặt, nói một cách hài hước

Đặc biệt là những lời nhắc nhở thiện ý, dùng một lời nói đùa để diễn đạt, như vậy người nghe sẽ không cảm thấy cứng nhắc. Họ không những hiểu được ý nhắc nhở của bạn mà còn quý mến bạn hơn.
svot-6

4. Điều thương tâm, đừng gặp ai cũng nói

Khi đang buồn bã, có ý muốn chia sẻ, nhưng nếu gặp bất cứ ai cũng thổ lộ sẽ rất dễ làm cho người nghe bị áp lực tâm lý đồng thời nảy sinh nhiều mối nghi ngờ, cảm thấy nhàm chán. Ấn tượng trước đây của bạn trong mắt người khác cũng sẽ bị mai một, khiến người ta xa lánh vì sợ bạn lại trút khổ lên họ.
svot-3

5. Điều vô căn cứ thì đừng nói hàm hồ

Trên đời tệ nhất là kẻ ngậm máu phun người, vì thế đừng nói những điều vô căn cứ hoặc thêu dệt. Hãy chứng tỏ mình là người trưởng thành, có nhân phẩm, có gì nói nấy, thành khẩn trong từng lời nói.
svot-4

6. Việc không thể làm, thì đừng nói

Không được dễ dãi cam kết những việc ngoài tầm tay. Phải để cho người ta tin rằng bạn nói được thì sẽ làm được.

7. Không nói lời tổn thương người khác

Chúng ta có thể không nóng nảy với người ngoài nhưng lại hay trút giận lên người thân, vì bạn cho rằng người nhà sẽ chấp nhận mọi khuyết điểm của mình. Đây là sai lầm lớn, đối với gia đình, bạn càng cần phải yêu thương và tiết chế những lời nói cay nghiệt, không đáng có. Nói lời tổn thương người khác thì mình sẽ bị khinh thường.

8. Chuyện của người khác, nói thật cẩn thận

Cần giữ một khoảng cách an toàn giữa người với người, đừng bình phẩm hay đồn thổi chuyện của người khác mà tạo ra những hiểu lầm tai hại.

9. Việc của mình, lắng nghe lời khuyên của mọi người

Những việc của mình nên lắng nghe quan điểm của người ngoài cuộc, một mặt có thể tạo ấn tượng khiêm tốn, mặt khác mọi người sẽ nghĩ rằng bạn là người thấu tình đạt lý.
svot-5

10. Việc của người lớn, nhiều nghe ít luận

Người lớn tuổi hơn thường không thích những người trẻ bàn luận hay cho nhiều ý kiến về việc của họ. Vì thế, nếu không phải chuyện mà bạn hiểu tường tận thì tốt nhất là ít luận để tỏ sự tôn trọng trưởng bối, khiêm tốn và hiếu học.
svot-7

11. Chuyện của vợ chồng, cùng nhau thương lượng

Giữa vợ chồng, sợ nhất một điều là xảy ra mâu thuẫn, cả hai đều ương bướng nên không thể giải quyết và mâu thuẫn càng chồng chất. Hãy cùng trò chuyện, đặt mình vào vị trí của đối phương mà tìm ra hướng hòa giải.
Sưu tầm

Chỉ Cần 3 Cách Sau, Sinh Viên Sẽ Học Hành Tử Tế

Hiện nay, giáo dục nước ta đang vướng vào nghịch lý là càng học cao càng nhàn. Điều này khiến nhiều người lo lắng về chất lượng đào tạo đại học.

Cộng Đồng Sinh Viên Ô Tô ngày 14/12/2016 có đăng bài viết: "Đi Học Ở Việt Nam, Nghịch Lý Càng Học Cao Càng Nhàn Và Rảnh Việc", bài báo đã phản ánh việc học ở các trường Đại học Việt Nam quả đúng như lời dẫn của bài báo là càng học lên cao càng nhàn.

Đây là một thực trạng học đại học ở Việt Nam mà dường như đã thành một nếp truyền thống đã có từ rất lâu. Để tiện theo dõi, tôi xin tóm lược lại một số ý chính về thực trạng mà bài viết đã nêu.     

Theo đó, chơi cả năm, học một tuần. Đó là thực tế của sinh viên tại hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam hiện nay. Sinh viên vẫn lên lớp thường xuyên nhưng không phải chỉ để chuyên tâm học tập.

Thay vào đó, nhiều sinh viên quan niệm “mỗi ngày đi học là một ngày… chơi”.

Không còn các bài kiểm tra đều đặn như thời học sinh, sinh viên hiện giờ chỉ coi trọng các kỳ thi cuối kỳ và chỉ thực sự quan tâm chuyện sách vở trước mỗi kỳ thi đó.

Vì thế, chuyện sinh viên bỏ học, trốn tiết, nhờ người đi học hộ, hoặc có đến lớp thì cũng ngủ, làm việc riêng không còn quá lạ lẫm với giới sinh viên.

Sinh viên đại học ngủ trong giờ.
Sinh viên đại học ngủ trong giờ.

Một phần nguyên nhân của thực trạng này cũng xuất phát từ quy chế học tập, thi cử ở bậc học Đại học, Cao đẳng ở nước ta.

Một sinh viên cho biết: “Học đại học nhàn hơn cấp 3 rất nhiều. Thời gian học thì ít, lại không bị kiểm tra bài cũ hay 15 phút, chỉ có giữa và cuối kì. Bọn mình chỉ thực sự ôn tập bài vở trước mỗi kì thi đó thôi. Còn bình thường thì chẳng bao giờ động đến sách vở, giáo trình”.
Vì thế, trốn học là chuyện bình thường. Với nhiều sinh viên, bút vở dường như là thừa thãi bởi học thì đã có giáo trình.

Không còn quá câu nệ chuyện ghi chép, ngay cả khi nhiều giảng viên truyền đạt những kiến thức không có trong giáo trình, nhiều sinh viên ngày càng ỷ lại vào những cuốn sách in sẵn.
Nhưng giáo trình thì không thể chỉnh sửa hàng năm nên nhiều sinh viên đang tự thỏa mãn với những kiến thức từ cách đây tới cả chục năm.

Trong giờ học, sinh viên cũng không cần ghi chép tất cả lời giảng của thầy cô vào vở. Một chiếc điện thoại có tính năng ghi âm, chụp ảnh phần nội dung trình chiếu trên bảng là trợ thủ đắc lực trong giờ học.

Dựa dẫm vào đề cương và những tài liệu in sẵn, phương pháp học tập theo kiểu “nước đến chân mới nhảy” đã và đang làm lười đi một thế hệ cử nhân tương lai của đất nước. 

Nếu như cấp học phổ thông một môn học kéo dài 10 tháng thì khi lên Đại học, Cao đẳng, một môn chỉ học trong vòng 1 tháng là thi, do đó thi xong quên là chuyện bình thường đối với sinh viên.

Một bạn sinh viên chia sẻ: “Hỏi mình kiến thức cấp 3 như bài thơ này của ai, nội dung như thế nào, công thức tính gia tốc trong Vật lí... mình còn nhớ, chứ giờ hỏi về mấy môn học trên Đại học mới thi xong cách đây 2 tuần thì mình chịu”.

Đó là toàn bộ bức tranh học Đại học của sinh viên Việt Nam và những hệ quả của nó.

Chính vì thế mà trong nhiều năm chúng ta đã đặt ra vấn đề chất lượng Đại học, và cũng chẳng có gì là bất ngờ khi mà nhiều cuộc thi tuyển đã không tuyển lựa được những nhân sự thực sự có năng lực đáp ứng yêu cầu công việc.

Vậy đâu là giải pháp cho thực trạng này?

Vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký Quyết định số 1981/QĐ - TTg phê duyệt Khung cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân, nhằm hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân mới một cách phù hợp, khoa học, bảo đảm tính khả thi, liên thông và phân luồng, tạo cơ hội được học tập suốt đời của người dân.

Theo đó, các chương trình đào tạo phải bảo đảm khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Cụ thể, so với trước kia, thời gian đào tạo bậc đại học đã rút ngắn từ 4 - 6 năm xuống còn 3 - 5 năm. Thời gian học cao đẳng thay vì ấn định 3 năm, nay linh động 2 - 3 năm. 

Như thế, khi thời gian đào tạo chỉ còn 3 năm không đồng nghĩa với việc cắt giảm nội dung, khối lượng kiến thức đào tạo mà sự rút ngắn này đòi hỏi cường độ học tập của sinh viên phải tăng lên.

Khi đó, buộc các giáo viên phải biết lựa chọn chương trình giảng dạy sao cho phù hợp, giáo trình cụ thể, không đi lan man như trước.

Phương thức đào tạo cũng phải thay đổi căn cốt, thay vì kiến thức hàn lâm phải gắn với những đòi hỏi thực tế của thị trường lao động.

Sự thay đổi này cũng là một động thái tích cực làm tăng chất lượng học Đại học.

Tuy nhiên, đây cũng chỉ là một tác động về mặt hình thức. Về lâu dài thì cần những giải pháp cụ thể và thiết thực hơn nhằm nâng cao chất lượng học Đại học của sinh viên hiện nay.

Vậy đâu là giải pháp thực sự cần thiết cho thực trạng này?  

Thứ nhất, cần thiết đổi mới tổng thể hệ thống giáo dục đại học nói chung. Nói đến đổi mới, đó là tổng thể các quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, phương hướng và cách thức thực hiện với một vấn đề nhằm mang lại hiệu quả cao hơn và có tính chất phát triển hơn.

Mục tiêu của giáo dục Đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo. 

Đổi mới giáo dục Đại học, trước hết là đổi mới về tư tưởng và triết lý giáo dục, đây là khâu đầu tiên được quán triệt trong các hoạt động dạy học và quản lý giáo dục.

Tiếp đó là khâu xác định mục tiêu giáo dục nhằm đào tạo ra những con người như thế nào, trên cơ sở đó cụ thể hóa và chuẩn đầu ra bậc học.

Sau các khâu trên, mới tổ chức biên soạn khung chương trình và giáo trình mới, xác định chuẩn nghề nghiệp của giảng viên, từ đó quyết định phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.

Ở khâu này, kết hợp tổ chức đào tạo, đào tạo lại hoặc bồi dưỡng giảng viên theo định hướng đổi mới của chương trình.

Cuối cùng là xác định hình thức và phương pháp kiểm tra đánh giá. Đây là khâu cuối, khép lại một hệ thống hoạt động giáo dục chặt chẽ, là hệ quả tất yếu từ tất cả các khâu trên.

Vì thế, việc đổi mới gắn liền với khả năng cung ứng nhu cầu xã hội, tăng cường kỹ năng thực hành và ứng dụng trong thực tiễn cần thiết đặt ra đối với đào tạo Đại học.  
      
Đổi mới giáo dục đại học phải đảm bảo sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo. 

Về nội dung, giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới.

Từ đó, đào tạo trình độ đại học phải bảo đảm cho sinh viên có những kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn tương đối hoàn chỉnh; có phương pháp làm việc khoa học; có năng lực vận dụng lý thuyết vào công tác chuyên môn.

Việc đổi mới phương pháp đào tạo trình độ trình độ đại học phải coi trọng việc nâng cao năng lực tự học, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, từ đó tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng. 

Về mặt chương trình và giáo trình đại học, đây là nội dung thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo phải bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác. 

Giáo trình giáo dục đại học cụ thể hóa yêu cầu về nội dung kiến thức, kỹ năng quy định trong chương trình giáo dục đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học phải đáp ứng các yêu cầu về phương pháp giáo dục đại học. 

Với những yêu cầu trên, mục tiêu chung của giáo đại học là nghiên cứu khoa học, công nghệ tạo ra tri thức, sản phẩm mới, phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế. 

Đào tạo người học phải có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hành nghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và công nghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo và trách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục vụ nhân dân. 

Từ đó, đào tạo trình độ đại học để sinh viên có kiến thức chuyên môn toàn diện, nắm vững nguyên lý, quy luật tự nhiên - xã hội, có kỹ năng thực hành cơ bản, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc ngành được đào tạo. 

Đối với việc đánh giá kết quả đào tạo đại học cần theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo, tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ; năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc. 

Trên cơ sở đó, giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các cơ sở giáo dục đại học.

Ở đây, coi sự chấp nhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của cơ sở giáo dục đại học, và là căn cứ để định hướng phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đào tạo. 

Thứ hai, trong quá trình giảng dạy cần có sự đổi mới về phương pháp tác nghiệp, theo đó các thầy cô giáo cần tổ chức thường xuyên các buổi thảo luận theo chuyên đề trên cơ sở nội dung đã học.

Cụ thể, các thầy cô giáo cần thường xuyên ra các chủ đề thảo luận cho sinh viên ở từng môn học theo định kỳ hàng tháng. Nội dung thảo luận là những chuyên đề cụ thể theo những chủ điểm của môn học.

Khi đó, những buổi thảo luận này sẽ tăng cường tính chủ động của sinh viên trong việc học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm.

Từ đó, sinh viên có sự đào sâu kiến thức đã học theo từng chủ điểm, và môn học cũng trở lên hấp dẫn hơn, kiến thức theo đó được trau dồi thường xuyên hơn. 

Thứ ba, đi liền ngay sau giải pháp trên, là sau mỗi buổi thảo luận sinh viên sẽ phải viết cụ thể những kiến thức thu lượm được thành một tham luận chuyên đề dưới dạng tiểu luận khoa học.

Vì thế, giải pháp này được tiến hành ngay sau giải pháp thứ hai. Các bản tiểu luận này sẽ được giáo viên cho điểm và lấy đó làm cơ sở đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo từng môn học.

Đây cũng là cơ sở đặt ra để sinh viên tự giác học tập, chủ động và tăng cường khả năng nghiên cứu khoa học, có sự ứng dụng thực tiễn trên cơ sở nhận thức và những kiến thức đã được tích lũy.          

Như thế, khi tiến hành thực hiện đồng thời những giải pháp này sẽ làm tăng hiệu quả học tập của sinh viên, đời sống học hành của sinh viên được sôi động hơn.

Theo đó, sẽ không có chuyện càng học lên cao càng nhàn và không có chuyện khi thi thì mới học, để rồi khi thi xong kiên thức rơi vào quên lãng.

Khi thực hiện các giải pháp đó đòi hỏi các thầy cô giáo và các sinh viên cũng có sự nỗ lực chung, thúc đẩy hiệu quả giảng dạy và học tập.    

Trên đây là một số quan điểm và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đại học và hiệu quả học tập của sinh viên hiện nay để bạn đọc quan tâm tham khảo.    
    
Hi vọng qua đó, chất lượng Đại học nói chung ngày càng được nâng cao, phát huy tinh thần tự giác, tính chủ động, sáng tạo của sinh viên trong học tập và nghiên cứu khoa học, từ đó ứng dụng kiến thức vào thực tiễn, để Đại học thực sự là lá cờ đầu của tri thức, quyết định sự phát triển của đất nước.

Theo giaoduc.net.vn

02 January, 2017

Làm Thế Nào Để Tự Tin?

Tự tin là gì? Chúng ta có thể hiểu ngắn gọn là tin vào chính bản thân mình, có thể nhận biết được giá trị và tầm quan trọng của bản thân trong cuộc sống cũng như các mối quan hệ. Nói vậy thôi chứ để có thể hình thành được sự tự tin là cả một quá trình rèn luyện, tích lũy và cả sự tác động của rất nhiều yếu tố xung quanh. Vậy làm thế nào để tự tin?

svot-1

1. Dẹp bỏ nỗi căng thẳng và sợ hãi

Trong cuộc sống mỗi chúng ta đều có những nỗi sợ hãi và căng thẳng riêng. Bạn sợ không dám bắt chuyện với người khác vì sợ người ta cho rằng mình lố bịch và sợ trong khi bạn ra sức bắt chuyện người ta sẽ thờ ơ và như vậy thì thật là mất mặt. Vì những suy nghĩ đó bạn bỏ qua việc làm quen với một người bạn mới để lựa chọn giải pháp an toàn hơn đó là đứng thụ động chờ người ta đến làm quen với bạn.

Hay khi tham gia một buổi hội thảo, một buổi học bạn sợ mình đứng dậy phát biểu sẽ sai, sợ người ta cho rằng bạn không giỏi, đánh giá cách ăn mặc của bạn không tốt, hoặc là kiểu tóc quê mùa.

svot-2

Thế đấy con người ta luôn có nỗi sợ hãi và căng thẳng, lo này, sợ nọ khiến họ sống khép kín hơn và không thể thoải mái nói về bản thân hay thể hiện bản thân trước người khác. Vì thế muốn tự tin chúng ta phải học cách dẹp bỏ bớt nỗi căng thẳng và sợ hãi bằng cách nghĩ rằng ai cũng sợ như mình người ta cũng sợ mình như mình sợ người ta ấy. Vậy sao mình không mạnh mẽ bước lại và làm cho người khác bớt sợ hãi? Chính mình cũng là một nỗi khiếp sợ đấy chứ nhỉ?

2. Tìm ra điểm mạnh của bản thân và phát huy chúng

Điều này nói ra thì không thực tế lắm nhưng lại rất hiệu quả nhé. Bản thân mỗi chúng ta ai cũng có những thế mạnh riêng, người thì chơi thể thao, hát, nấu ăn, làm bánh, khéo tay có thể làm được sản phẩm đẹp, giỏi về kĩ thuật, đồ họa,.... hãy nhận ra và phát huy chúng. Nếu chúng ta có một trong những thế mạnh nào đó nổi trội sẽ có thể tự tin hơn khi nói chuyện với người khác hay giới thiệu về bản thân và có thể tự hào hơn về chính mình, cũng như tạo thêm đề tài cho các cuộc nói chuyện.

svot-3

Vì thế hãy dành thời gian để suy ngẫm xem mình có những ưu điểm nào. Rồi dùng bút ghi lại và phân loại những ưu điểm đó ra. Ví dụ, sở trường của bạn là gì? Bạn đã làm những việc gì có ích cho xã hội? thành tích học tập nổi trội nhất là gì? Trước đây mọi người đã từng biểu dương, ca ngợi bạn chưa? Bởi không phải tự dưng bạn được người ta khen ngợi đâu nên hãy liệt kê ra và xem xét xem bạn có thể phát huy được những điểm nào? Hãy cố gắng phát huy chúng để tạo nên sức mạnh cho bản thân và tự tin hơn nhé.

3. Có sự chuẩn bị kỹ lưỡng

Hầu hết con người ta thấy thiếu tự tin khi mình chưa chuẩn bị kĩ lưỡng. Nếu một buổi sáng bạn ra ngoài với bộ quần áo chưa là phẳng, mái tóc chưa được gọn gàng và make up vội vàng thì bản thân bạn sẽ thấy không thể nào tự tin. Bạn sẽ lo lắng người ta đánh giá về bạn, sợ make up bị lỗi,... và cứ thế bạn không thể thoải mái đối diện với người khác mà chỉ lo sợ khi có người khác nhìn mình. Đấy nhé, khi chúng ta vội vàng và cho rằng mọi thứ đều chưa tốt thì làm sao có thể thể hiện bản thân một cách tốt nhất?

Vì vậy hãy thêm chút thời gian để chuân bị mọi thứ thật kĩ lưỡng. Khi tham gia buổi họp nào đó, hãy chuẩn bị bài phát biểu của mình trước và thử nói trước gương vài lần để đảm bảo không có sai sót xảy ra. Trước khi đi ra ngoài hãy dậy sớm và dành 30 phút cho việc chuẩn bị, quần áo phẳng phiu, đầu tóc phải gọn gàng, đối với phụ nữ hãy make up cẩn thận.... Khi bạn chắc chắn mình đã chuẩn bị mọi thứ tốt và không có sai sót bạn sẽ đón đầu mọi thứ bằng sự chủ động điều này sẽ giúp bạn tự tin hơn nhiều đấy.

4. Trau dồi vốn kiến thức phong phú

Nếu có một nền tảng kiến thức phong phú bạn sẽ không sợ bản thân mình dốt hơn người khác, có thể nói chuyện và thể hiện sự hiểu biết của mình cho người khác và không sợ bị lặc lõng giữa mọi người vì bạn không biết nói gì. Việc bạn biết nhiều sẽ giúp bạn tự tin thể hiện bản thân và thoải mái hơn trong mọi mối quan hệ. Vậy làm thế nào để trau dồi kiến thức?

svot-4

Hãy chăm đọc sách bởi sách là kho tàng kiến thức của toàn nhân loại, bạn có thể đọc và tìm hiểu rất nhiều thứ từ sách. Theo dõi các chương trình thời sự để cập nhật thông tin quan trọng, theo dõi các trang mạng xã hội, báo chí để bắt kịp với xu thế chung và cả việc chia sẻ với mọi người nữa nhé.

5. "Xây dựng" con người về mọi mặt

Hãy xây dựng con người của các bạn về mọi mặt để có thể có một "bạn" tốt nhất, xem nào chúng ta có thể làm gì với chính mình để tự tin đây?

Đầu tiên hãy chăm sóc sức khỏe và ngoại hình nhé. Xây dựng một chế độ ăn hợp lí và luyện tập thể dục hằng ngày để có thể có sức khỏe và vóc dáng tốt. Dành thời gian cho việc làm đẹp hằng ngày, để đẹp trong mắt người khác và có thể tự tin về ngoại hình của bản thân. Ngoại hình đóng vai trò rất lớn tới sự thành công và việc xây dựng các mối quan hệ đấy nhé.

Tạo cho mình cách ăn mặc phù hợp ở mọi lúc, mọi nơi. Không phải có nhiều quần áo là bạn thể hiện được cách ăn mặc phù hợp, hãy giữ cho quần áo luôn sạch sẽ, phẳng phiu, chọn màu sắc và kiểu dáng phù hợp cho từng hoạt động và vóc dáng. Ví dụ như khi đi làm bạn chọn kiểu áo sơ mi trắng quần tây đen hoặc zip, khi đi dự tiệc bạn chọn mẫu váy có màu sắc nổi bật hơn màu đỏ chẳng hạn và kiểu dáng cầu kì hơn một chút nhưng không nên quá diêm dúa, khi đi chơi cùng với bạn bè hãy chọn trong phục thoải mái quần đùi, áo phông chẳng hạn còn ở nhà cũng phải mặc thật gọn gàng đấy nhé. Cách ăn mặc phù hợp sẽ giúp bạn thoải mái thể hiện bản thân, không bị cô lập khi đi cùng mọi người và thể hiện phong thái của bạn từ đó giúp bạn tự tin hơn.

svot-5

Tạo cho mình tác phong giao tiếp phù hợp: cái này thì cũng tương đối là khó đấy nhé. Có hẳn những quyển sách dày dạy chúng ta cách tự tin khi giao tiếp như là: " nghệ thuật ứng xử", " kỹ năng giao tiếp để thành công",... nhưng điều cơ bản là chúng ta phải đứng thẳng và hướng mắt về người đối diện khi giao tiếp. Học cách mỉm cười khi nói chuyện, và giao tiếp bằng ánh mắt với người đối điện không tránh khi bắt gặp ánh mắt của đối phương, tập nói to, rõ ràng và học cách lắng nghe người khác. Giành cho nhau những lời nói, cử chỉ thân thiện nhất. Ngoài ra cũng cần sử dụng linh hoạt "cảm ơn" và "xin lỗi" trong các trường hợp để biểu đạt thành ý của bản thân. Kỹ năng giao tiếp là rất cần thiết trong mọi tình huống và để bạn có thể hoàn thiện bản thân hơn từ đó tự tin hơn.

Không so sánh bản thân mình với người khác hay suy mình phải sống như người khác. Nên nhớ rằng bản thân chúng ta là một chủ thể hoàn chỉnh và nếu chúng ta cũng giống như người khác thì chúng ta sẽ không còn là mình nữa. Vì thế hãy sống theo suy nghĩ của mình, phấn đấu xây dựng mình theo cách mình muốn mà không phải là bản sao của người khác. Hãy là chính mình đi nhé.

6. Tự tin nhưng không tự tin một cách thái quá

Chúng ta hãy rèn luyện để có thể tự tin bởi vì chỉ có tự tin mới có thể thể hiện được hết khả năng của bản thân và khẳng định vị trí của mình để từ đó đi tới thành công. Nhưng việc tự tin phải đi kèm với biết lắng nghe người khác và tiếp thu những điều đúng đắn để hoàn thiện bản thân. Không nên tự tin thái quá dẫn tới suy nghĩ lệch lạc, thổi phồng bản thân trước người khác hay khoe khoang quá nhiều điều này sẽ làm bạn bị cô lập vì người đối diện cho rằng bạn chỉ "nổ" thôi và sao lại phải nghe một người thao thao bất tuyệt về những điều thiếu chân thành đó?

svot-6

Hãy rèn luyện bản thân và tự tin làm chủ mọi tình huống để vượt qua mọi thử thách, khó khăn một cách đúng mực bạn nhé. Và nhớ rằng để có thể tự tin bạn sẽ phải rèn luyện và thay đổi rất nhiều thói quen trong thời gian dài đấy. Cứ kiên trì đi rồi bạn sẽ tự tin, hãy luôn nghĩ: "vâng tôi sẽ làm được" bạn nhé.

Sưu tầm Tâm Lý Học Ứng Dụng

Đổi Mới Phương Pháp Giảng Dạy, Tiêu Điểm Của Đổi Mới Căn Bản, Toàn Diện

Phương pháp đổi mới sẽ tăng cường sự chủ động của người học, tạo hứng thú tiếp thu và khơi ngợi đào sâu suy nghĩ tìm hiểu vấn đề.

Năm 2011 được xem là một bước khởi đầu mới trong giáo dục. Nói là một sự khởi đầu mới bởi lẽ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI được khai mạc vào mùa xuân.
Và tại đây, chủ trương đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam cũng được đưa ra.
Và ngày 4/11/2013, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI đã tiến hành Hội nghị lần thứ 8 với chủ điểm đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.
Theo đó, tại Hội nghị 8, Ban chấp hành Trung ương Đảng đã ban hành Nghị quyết số 29 về nội dung này. 
Nói tới đổi mới, xét cho cùng là nhằm đảm bảo thực hiện được các mục tiêu chung và nâng cao chất lượng giáo dục.

Để đổi mới giáo dục, cần đồi mới phương pháp giảng dạy đại học.
Để đổi mới giáo dục, cần đồi mới phương pháp giảng dạy đại học.

Và chất lượng giáo dục ở đây do chất lượng của giáo viên quyết định. Trong đó, phương pháp giảng dạy của giáo viên là khâu then chốt.
Vì thế, đổi mới phương pháp giảng dạy được xem là tiêu điểm của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục.          
Khi xét tới tình trạng học tập của sinh viên Việt Nam trong nhiều năm qua, "chơi cả năm, học một tuần" là thực tế của sinh viên tại hầu hết các trường Đại học, Cao đẳng ở Việt Nam hiện nay.
Theo đó, sinh viên vẫn lên lớp thường xuyên nhưng không phải chỉ để chuyên tâm học tập.
Đối với học đại học của sinh viên ta hiện nay, không còn các bài kiểm tra đều đặn như thời học sinh, mà sinh viên hiện giờ chỉ coi trọng các kỳ thi cuối kỳ và chỉ thực sự quan tâm chuyện sách vở trước mỗi kỳ thi đó. 
Kết quả khảo sát cho thấy, sinh viên hiện nay không còn quá câu nệ chuyện ghi chép, ngay cả khi nhiều giảng viên truyền đạt những kiến thức không có trong giáo trình, nhiều sinh viên ngày càng ỷ lại vào những cuốn sách in sẵn.
Tuy nhiên, những cuốn giáo trình thì không thể chỉnh sửa hằng năm nên nhiều sinh viên đang tự thỏa mãn với những kiến thức từ cách đây tới cả chục năm.
Trong giờ học, sinh viên cũng không cần ghi chép tất cả lời giảng của thầy cô vào vở.
Một chiếc điện thoại có tính năng ghi âm, chụp ảnh phần nội dung trình chiếu trên bảng là trợ thủ đắc lực trong giờ học.
Dựa dẫm vào đề cương và những tài liệu in sẵn, phương pháp học tập theo kiểu “nước đến chân mới nhảy” đã và đang làm lười đi một thế hệ cử nhân tương lai của đất nước. 
Nếu như ở cấp học phổ thông, một môn học kéo dài 10 tháng thì khi lên Đại học, Cao đẳng, một môn chỉ học trong vòng 1 tháng là thi.
Do đó, thi xong quên là chuyện bình thường đối với sinh viên.
Đó là một bức tranh phản ánh thực trạng giảng dạy và học tập ở bậc đại học Việt Nam hiện nay.    
Đối với giáo dục phổ thông, đổi mới phương pháp giảng dạy là con đường nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện nhằm thực hiện các mục tiêu giáo dục.
Tuy nhiên, hiện trạng giáo dục trong nhiều năm qua cho thấy, chất lượng thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy còn nhiều yếu kém.
Cụ thể hiện nay, phương pháp giảng dạy ở các trường phổ thông vẫn là phương pháp truyền thống.
Ở đây, quá trình dạy học được xem là quá trình truyền tải thông tin từ người dạy sang người học và do đó phụ thuộc căn bản vào tài năng sư phạm của người thầy.
Theo đó, thầy thuyết trình, diễn giảng, trò nghe, ghi theo và nghĩ theo một cách thụ động. Quan hệ sư phạm giữa thầy và trò là quan hệ trực diện, đơn tuyến theo đường thẳng từ trên xuống, thể hiện tính chất chỉ huy - phục tùng.
Thầy là chủ thể, tâm điểm và trung tâm của quá trình giảng dạy, còn học trò là khách thể, xem như những quỹ đạo bao quanh.
Trên thực tế, do nhiều nguyên nhân nên ở Việt Nam ta quá trình đổi mới phương pháp giảng dạy ở tất cả các bậc học, cấp học chưa được nhận thức nhất quán rộng rãi trong đội ngũ giáo viên.
Tình trạng giảng dạy theo kiểu "nhồi sọ", thuyết giảng và truyền thụ một chiều vẫn đang tồn tại.
Trong lối giảng dạy đó, vai trò của người thầy là số một, lấn át vai trò của học trò; trong khi đó, trò rất thụ động, ỷ lại lại vào thầy, vào sách.
Vì thế, quan hệ sư phạm giữa giáo viên và học sinh do đó thiếu thân thiện, mất dân chủ, mang tính áp đặt một chiều.  
Mặt khác, khả năng lựa chọn và tổ chức sử dụng, phối kết hợp một cách hợp lý các phương pháp giảng dạy của các giáo viên còn yếu.
Trong quá trình giảng dạy, người thầy chưa chú ý tổ chức các hoạt động nhận thức nhằm phát huy khả năng độc lập và sáng tạo của học sinh. Phương pháp giảng dạy còn nghèo nàn, đơn điệu và hình thức.
Trong bối cảnh "đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục" được xem như một mũi nhọn đột phá của chiến lược phát triển thì đổi mới phương pháp giảng dạy trở thành một yêu cầu bức thiết.

Vậy, cần thiết đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng nào?    

Trước hết, đổi mới phương pháp giảng dạy phải góp phần thực hiện mục tiêu hình thành ở người học những phẩm chất và năng lực mới phù hợp với sự phát triển của thời đại như tính chủ động, khả năng độc lập, năng lực học tập suốt đời, năng lực giải quyết vấn đề và năng lực sáng tạo...
Từ đó, tạo thành năng lực thích nghi cao trong một cuộc sống biến đổi không ngừng.

Thứ hai, việc đổi mới phương pháp giảng dạy cần thực hiện theo những giải pháp cụ thể. Theo đó, việc đổi mới phương pháp giảng dạy ở bậc đại học cần thực hiện đồng bộ hai giải pháp.
Một là, trong quá trình giảng dạy cần có sự đổi mới về phương pháp tác nghiệp, theo đó các thầy cô giáo cần tổ chức thường xuyên các buổi thảo luận theo chuyên đề trên cơ sở nội dung đã học.
Cụ thể, các thầy cô giáo cần thường xuyên ra các chủ đề thảo luận cho sinh viên ở từng môn học theo định kỳ hằng tháng. Nội dung thảo luận là những chuyên đề cụ thể theo những chủ điểm của môn học.
Khi đó, những buổi thảo luận này sẽ tăng cường tính chủ động của sinh viên trong việc học, tăng cường khả năng làm việc theo nhóm.
Sinh viên có sự đào sâu kiến thức đã học theo từng chủ điểm và nhờ đó môn học cũng trở lên hấp dẫn hơn, kiến thức theo đó được trau dồi thường xuyên hơn. 
Hai là, sau mỗi buổi thảo luận sinh viên sẽ phải viết cụ thể những kiến thức thu lượm được thành một tham luận chuyên đề dưới dạng tiểu luận khoa học. Vì thế, giải pháp này được tiến hành ngay sau giải pháp thứ nhất.
Các bản tiểu luận này sẽ được giáo viên cho điểm và lấy đó làm cơ sở đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo từng môn học.
Đây cũng là cơ sở đặt ra để sinh viên tự giác học tập, chủ động và tăng cường khả năng nghiên cứu khoa học, có sự ứng dụng thực tiễn trên cơ sở nhận thức và những kiến thức đã được tích lũy. 
Như thế, khi tiến hành thực hiện đồng thời hai giải pháp liên quan trực tiếp đến việc giảng dạy và học tập ở bậc đại học này sẽ làm tăng hiệu quả học tập của sinh viên.
Hoạt động học hành của sinh viên được sôi động hơn và không có chuyện càng học nên cao càng nhàn cũng như không có chuyện khi thi thì mới học, để rồi khi thi xong kiến thức rơi vào quên lãng.
Khi thực hiện các giải pháp đó đòi hỏi các thầy cô giáo và các sinh viên cũng có sự nỗ lực chung, tạo đà thúc đẩy hiệu quả giảng dạy và học tập.
   
Thứ ba, đổi mới phương pháp giảng dạy lấy học sinh và hoạt động học của học sinh làm trung tâm.
Theo đó, trong giảng dạy, thầy giáo phải đánh giá đúng đối tượng người học, hiểu được suy nghĩ của học sinh, biết học sinh muốn gì để thiết kế bài giảng cho thích hợp.
Từ sự nắm bắt của người học để xây dựng nên nội dung giảng dạy. Trong quá trình giảng dạy cần tăng cường tính chủ động cho học sinh.
Khi đó, việc giảng dạy cần theo hướng gợi mở ván đề học sinh tự tìm tòi kiến thức, từ đó làm tăng khả năng tự học của người học.

Thứ tư, đổi mới theo hướng giáo viên là người tổ chức kiến thức và các quá trình nhận thức cho người học.
Việc thiết kế bài giảng và nội dung giảng dạy theo đó phải bảo đảm sự phân luồng trong nhận thức của người học, tránh sự áp đặt một chiều.
Trong quá trình giảng dạy phải có sự liên hệ với thực tiễn để làm tăng tính sinh động và thiết thực cho bài giảng, từ đó kích thích niềm say mê, hứng thú học tập cho người học.     
Đổi mới phương pháp giảng dạy là một quá trình mà ở đó luôn đòi hỏi người thầy phải năng động, sáng tạo thích hợp với điều kiện hiện có và khả năng tiếp nhận của học sinh, sinh viên.
Với yêu cầu đặt ra là người thầy phải hơn người học ít nhất một "cái đầu", do đó đòi hỏi người giáo viên phải luôn đi trước học sinh về tư duy và nhận thức, để từ đó tìm ra phương pháp giảng dạy thích hợp nhất.
Đặt người học vào vị trí trung tâm trong quá trình giảng dạy để từ đó có được phương pháp tối ưu và thiết thực nhất. 
Trên đây là một vài trao đổi nhằm năng cao chất lượng giảng dạy, hy vọng rằng, với nhiệt huyết đổi mới của đội ngũ giáo viên, công cuộc đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục sẽ đạt được những hiệu quả tốt nhất.
Nguồn: giaoduc.net.vn